Mỗi dân tộc có một phong tục, một nét văn hóa riêng trong nghi lễ hỏi -cưới. Đám cưới của người Mường ở Ao Luông (Văn Chấn, Yên Bái) cũng có những điểm độc đáo khác biệt, mang đậm nét văn hóa đặc trưng của họ.
Trước đây người Mường Ao Luông có phong tục cưới xin rất phức tạp, nhiều
nghi lễ. Việc hôn nhân của con cái được quan niệm là do “cha mẹ đặt đâu, con
ngồi đấy”, bố mẹ ưng ý thì con cái phải thuận theo bố mẹ. Ngày nay, việc cưới
hỏi của người Mường đã giảm bớt phép tắc, đã được tự do yêu đương, tự do tìm
hiểu. Lễ hội Nàng Han tổ chức hàng năm từ ngày 5/5 đến hết tháng 3 âm lịch cũng
là dịp để trai gái tìm hiểu lẫn nhau. Khi đã tìm hiểu kỹ thì báo với hai bên cha
mẹ để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho một đám cưới. Lúc này, nhà trai sẽ
tìm một ông mối, nhà gái tìm một bà mối đến để đôi bên gia đình nói chuyện, đối
đáp với nhau. Người Mường Ao Luông cũng có quan niệm giống người Kinh về những
điều kiêng kỵ trong hôn nhân, đó là những người cùng họ tộc không được lấy nhau,
phải cách nhau ít nhất là 3 đời.
Khi sang nhà gái dạm hỏi, ông mối phải
mang theo 12 chiếc bánh sừng bò (bánh gói bằng lá cây chít), một chai rượu gạo
nếp, đặt trước với bố mẹ cô gái để thưa chuyện. Bố mẹ cô gái nếu đồng ý thì nhận
và làm một bữa cơm chiêu đãi ông mối rồi nhà gái treo 12 chiếc bánh lên cột nhà
gần khu bếp 3 ngày 3 đêm.
Trong khoảng thời gian 3 ngày 3 đêm đó nếu có
con chim cú mèo kêu thì đó là điềm báo không tốt, trai gái hai nhà không nên lấy
nhau. Ngược lại, nếu không có cú mèo kêu thì là điềm tốt, sau 3 ngày nhà gái sẽ
gọi ông mối nhà trai đến, mang rượu ra uống và đồng ý gả con gái.
Lễ dạm
hỏi của người Mường Ao Luông trước kia thông thường phải trải qua 5 lần đi
lại:
Lần 1: Nhà trai mang 1 chai rượu, buồng cau, lá trầu, chè
khô.
Lần 2: Khi nhà gái nhận lời thì mang bánh chưng, rượu, chè
khô.
Lần 3: Mang theo bánh dày, 2 chai rượu, 1 buồng cau, chè
khô.
Lần 4: Nhà trai mang đến bánh dày và rượu.
Lần 5: Nhà trai
mang đến cau, trầu, bánh dày và rượu và đây là lần nhà trai chính thức xin ngày
ăn hỏi.
Theo thời gian, việc cưới xin của người Mường đã đơn giản hơn rất
nhiều, nhà trai sau khi đến nhà gái thưa chuyện nếu được nhà gái đồng ý thì về
chuẩn bị lễ ăn hỏi với các lễ vật thông thường như: rượu, thịt, tiền mặt sau đó
chọn ngày lành tháng tốt để tổ chức đám cưới.
Cô dâu khi về nhà chồng
thường có một số của hồi môn do chính tay mình làm như: chăn, chiếu, gối, đệm
tặng những người già, bố, mẹ, anh, chị, em ruột bên nhà trai. Cô dâu mới được
gia đình nhà chồng nhận xét đánh giá là đảm đang, ngoan hiền hay không phụ thuộc
vào số của hồi môn mà cô mang theo, bởi vì để làm được số của hồi môn trên thì
từ lúc 12 - 13 tuổi cô dâu đã phải chuẩn bị các vật dụng để làm.
Tục hôn
nhân của dân tộc Mường xưa nay tồn tại hai hình thức là đón dâu về ở hẳn nhà
chồng và tục lấy rể (tục lấy rể thường là ở những gia đình thiếu con trai). Tục
ở rể thì trước đây nhà trai phải chủ động sắm lễ để ra mắt chàng rể tại bên nhà
gái. Theo quy ước thì lễ ra mắt gồm có các lễ vật đó là: 4 thúng gạo nếp, 1
buồng cau, 40 chai rượu, một bó trầu, 2 tạ lợn, chọn khoảng 20 - 30 người thanh
niên chưa vợ để khiêng các đồ lễ vật sang nhà gái.

Đồng bào Mường có tục chăng dây khi nhà trai đến cổng nhà gái hoặc có
hai người canh cửa không mở, bao giờ nhà trai cho tiền họ mới mở cửa. Khi cửa mở
đi đầu sẽ là một cô gái đại diện cho họ nhà trai đội 1 mâm xôi có hai con gà
trống thiến đã mổ và luộc chín. Gà trên mâm phải có cựa nếu không con gà đó sẽ
không có ý nghĩa gì và nhà gái căn cứ vào đó sẽ không đón tiếp nhà
trai.
Cho đến khi ông mối đưa được chàng rể vào trong nhà sàn là mọi thử
thách nhà gái đặt ra với chàng rể đã hết. Ông mối hết trách nhiệm và giao quyền
cho ông bố rể mượn (nhà trai nhờ một người đàn ông khoảng 55 tuổi trở lên làm bố
rể mượn để nói chuyện với nhà gái). Lúc này, ông bố rể mượn giữ vai trò quan
trọng trong việc giao tiếp chính với nhà gái và dắt chàng rể đến bàn thờ tổ tiên
để lạy.
Tiếp đến ông bố rể mượn dắt chú rể đi giới thiệu với từng
người bên họ nhà gái, tuỳ theo họ gần hay họ xa mà chú rể phải lạy như thế nào,
việc đi lạy từng người có ý nghĩa là chú rể cảm ơn đã nuôi nàng dâu trưởng
thành, thông minh, khoẻ mạnh, chăm chỉ làm ăn, hiếu thảo với cha mẹ.
Khi
chú rể đi lạy mọi người xong, các mâm cỗ cũng được bày ra, mọi người ngồi vào
mâm ổn định. Ông bố rể lại dắt con rể đi chào từng mâm một sau đó mới được ngồi
vào ăn. Trước kia ở nhà gái còn có tục chuẩn bị 2 hũ rượu cần, ông mối xin phép
nhà gái làm lễ khấn rượu, khi ông mối làm lệ này nhà gái đứng một bên, nhà trai
đứng một bên để đáp lời. Sau đó, mọi người chung vui và uống rượu mừng cho cô
dâu, chú rể sống hạnh phúc, đông con và mừng cho 2 gia đình đã có thêm được dâu
hiền, rể thảo.
Khi đoàn đón dâu về đến nhà trai, dừng ở cách chân cầu
thang khoảng 3 mét, tại đó đã đặt sẵn một chiếc nồi đồng đựng nước sạch, kê
nhiều hòn đá hoặc đặt thanh ván sạch nối đến chân cầu thang, sau khi rửa sạch
chân mọi người mới được bước lên nhà sàn. Lúc này, bà mối bên nhà gái dẫn dâu
đến lạy trước bàn thờ tổ tiên, lạy họ hàng nhà trai, tất cả khách đều được mời
lên nhà và ngồi theo thứ tự. Khi làm hết mọi thủ tục, mọi người cùng ngồi vào ăn
cơm, uống rượu. Trong cỗ cưới của người Mường tuyệt đối không có tiết canh, đó
là điều tối kỵ.
Đêm đó, tại nhà trai sẽ diễn ra tiệc hát đối, hát ví, họ
dành cho nhau những lời chúc tụng rất vui vẻ. Trong đêm đó còn diễn ra tục lệ cô
dâu mới vái lạy vua bếp để cầu vua bếp phù hộ cho mình trong công việc nội trợ
phục vụ gia đình nhà chồng được chu đáo.
Người Mường ở Ao Luông cũng có
tục lại mặt giống như dân tộc Kinh, sau 3 ngày 3 đêm chú rể đưa cô dâu về nhà mẹ
đẻ để làm lễ lại mặt. Lễ vật gồm có 1 đôi gà, 1 coóng cơm nếp, 2 chai rượu, trầu
cau. Sau đó, buổi chiều chú rể lại đưa cô dâu trở lại nhà mình, vào đêm thứ 4 ở
nhà trai đôi trai gái mới cưới đó mới chính thức động phòng.
Hiện nay đám
cưới chỉ diễn ra đơn giản theo các bước: dạm hỏi, lễ ăn hỏi và lễ cưới đón dâu.
Nhiều gia đình đã tổ chức đám cưới theo nếp sống mới, đơn giản, ít rườm rà nhưng
vẫn lưu giữ được một số phong tục truyền thống của dân tộc Mường, góp phần làm
giàu vốn văn hóa của 30 dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn tỉnh Yên
Bái.